Tài nguyên dạy học

Điều tra ý kiến

Quý vị thích nội dung nào trên web của chúng tôi?
Tin tức - Sự kiện
Sóc Trăng quê tôi
Bài viết
Công nghệ thông tin
Cần thêm lĩnh vực mới

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    4 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Câu lạc bộ thành viên ViOLET Sóc Trăng.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Bài viết > Trao đổi kinh nghiệm >

    Thi đại học: Sao không chọn cách thứ ba?

    Trên báo điện tử Vietnamnet vừa có cuộc tranh luận giữa hai tác giả Ngô Tự Lập và Hoàng Biên về chuyện bỏ hay không bỏ kỳ thi đại học. Theo dõi cuộc đối thoại này, tôi xin góp thêm vài ý kiến, như một cách chọn lựa khác. 

     

     

     

    Kỳ 1: Trăn trở từ vài thập kỷ

    Trước hết, về phương pháp tranh luận, cả hai tác giả đã bày tỏ được những trăn trở đáng quý của mình quanh vấn đề hệ trọng này.

    Ý kiến nào cũng có vẻ rất xác đáng, đặc biệt là lập luận của ông Ngô Tự Lập về tính xã hội của vấn đề.

    Những tổng hợp của tác giả về số tiền bạc “đội nón ra đi” thực chất đáng đau xót, cách đây 10 năm Giáo sư Trần Hữu Tá cũng đã cảnh báo rất sớm nội dung này. Vừa qua, trong loạt bài “Giáo dục Việt Nam nhìn từ ngã tư Bảy Hiền” đăng trên Tamnhin.net, tôi cũng đã mô tả kỹ chuyện này.

    Làm thế nào giữ lại được nguồn tài lực ấy là câu hỏi lớn dành cho những người quan tâm đến nền giáo dục này.
    Về ý kiến đánh giá “sự phá sản” của cuộc thi đại học, cũng là một thể hiện mười mươi, khỏi bàn cãi.

    Trong phản biện của mình, tác giả Hoàng Biên cũng rất “cao tay”, ông nêu ý kiến thuyết phục rằng: kỳ thi đại học không “cấm cửa “ ai cả, ngược lại, chưa bao giờ “cửa” trường đại học mở rộng như bây giờ.

    Tôi đồng ý với hầu hết ý kiến của… cả hai ông. 

    Vậy tôi là kẻ ba phải chăng?

    Không!

    Đọc xong hai bài viết, tôi thấy cả hai vị, cho dù cương vị và bề dày kiến thức đáng nể nhưng không hiểu các vị vô tình hay hữu ý, đã chưa tính tới một điều cốt tử mà tôi đề cập ở đây. Đó là cách thứ ba, ngoài cách “bỏ” hay “không bỏ” như hai vị nói trên.

    Đi tìm khái niệm thực của ba chữ “thi đại học”


    Có lẽ, tìm từ nguồn văn học sử của nhiều nước, khó nước nào có “nền văn minh thi cử” phong phú, dài hơi như xứ ta và Trung Hoa. Trong những tác phẩm văn học trước cách mạng tháng 8 đã xuất hiện rất nhiều trang văn ghi lại cảnh lều chõng cơ cực đi thi và những giai thoại về ứng xuất văn chương kỳ tài của các thí sinh còn dư âm thú vị đến giờ.

    Dăm chục năm nay, chúng ta thực chất vẫn chưa thoát khỏi bối cảnh của một đất nước còn bộn bề, tốc độ phát triển thấp, mức lương tối thiểu ghi trong Bộ Luật Lao động chỉ bằng một bữa ăn sáng của một công dân tầm trung bên Nhật, Hàn.

    Không ít hơn 50% lao động của Việt Nam, diện lao động chân tay, hưởng mức lương mà nếu chi dùng cho đủ những nhu cầu thiết yếu của bản thân thì bằng 0. Ví như hình ảnh một thợ xây ở TP HCM lương khoảng 2 triệu đồng/ tháng, nếu có việc đều (các vùng khác tệ hơn), khoản tiền này nếu chi cho ăn đủ dinh dưỡng, mặc đẹp, thuê nhà ở và di chuyển, thuốc bệnh khi ốm đau (chưa tính đến giải trí và học hành) ở địa bàn TP HCM thì… hết! Nếu còn đôi đồng thì chỉ do họ dành dụm mà có. Nếu muốn có một cái nhà ở cấp 4 khoảng sáu chục mét vuông ở ngoại thành, họ sẽ mua được sau bốn, năm chục năm lao động, khi đã bảy mươi tuổi! 

    Với anh chị em trẻ tuổi ở môi trường nông thôn, nông nghiệp, tình hình còn tiêu cực hơn.

    Nếu có một thống kê về tỷ lệ người thất nghiệp theo sát nghĩa của từ này, cộng thêm định tính “có việc làm cũng như không bởi lợi nhuận thực không có”,  thì Việt Nam ta dám chiếm TOP đầu trong một bảng tổng sắp.

    Tiến sĩ Hoàng Thi Chỉnh thuộc Đại học kinh tế TP HCM đã có một thống kê cách đây 8 năm: có đến 90% sinh viên ra trường thất nghiệp hoặc làm việc không đúng nghề của mình.

    Hôm nay, 2010, tại một công ty xây dựng, địa ốc quen biết của tôi, trong số 40 viên chức từ giám đốc trở xuôi, chỉ có 7 người làm đúng việc mình đã học ở trường đại học trên tổng số 29 người tốt nghiệp từ cao đẳng trở lên. Như vậy, tỉ lệ buồn này vẫn là 70/30. Cần thấy rằng, một tiến sĩ ngành văn chương khi đặt vào làm ở phòng kế toán của một công ty thì năng lực công tác khó mà bằng một cô mới tốt nghiệp trung cấp kế toán - tài chính.

    Nêu hình ảnh này, tôi muốn làm bật lên rằng: hai chữ “đại học” không còn ý nghĩa thuần tuý nữa. Nó là một khát vọng mơ hồ nhưng rất thực, khát vọng ấy dồn nén từ đời ông, đời cha cho đến nay của cả người có khả năng hay không có khả năng vào đại học… 

    Nếu bây giờ có một khảo sát nhỏ theo chủ đề “vào đại học để làm gì” dành cho lớp thanh niên và cả cha mẹ họ, thì nhóm câu trả lời “để thoát khỏi cảnh lam lũ, thu nhập thấp” hoặc “để bằng anh bằng em, khỏi bị chê cười” sẽ chiếm tỉ lệ khá cao. Khát vọng ấy không phải thuần tuý là của người muốn chiếm lĩnh đỉnh cao khoa học, tôn thờ tri thức, mà việc học lên cao chỉ như một sự giải tỏa, một sự cứu rỗi chính mình.

    Bên cạnh đó, chính sách cán bộ hiện hành với tiêu chí gần như muốn “xoá mù đại học” cho hàng triệu viên chức từ cấp xã trở lên, lấy tiêu chí đó để tuyển lựa nhân viên, định mức lương bổng cho cán bộ cũng chính là một nhân tố góp  phần vào cái sĩ số khổng lồ nêu trên.

    Tóm lại, ở phía “cầu” xuất hiện một đại lượng khổng lồ.

    Hãy nhìn tấm hình chụp biểu đồ kết quả của báo Tuổi trẻ TP HCM, cho thấy dạng lẽ ra không nên mon men đến cổng trường đại học, thậm chí trung học rất nhiều, trên 70%. Đó là những em thi cả ba môn chưa được 10 điểm. Nhưng với kiểu hiện nay, hơn 70% “thấp bé nhẹ cân” kia vẫn tự nguyện đóng cả ngàn tỷ vào trò chơi may rủi rồi về!



    Tại đây, một khái niệm rõ nét hiển hiện với tên gọi hơi dài: Thi đại học là những nỗ lực chính thống hoặc phi chính thống để lọt vào đại học bằng mọi cách của một số rất đông công dân trẻ, trong đó có rất nhiều người hoàn toàn không đủ năng lực học hành.

    Cùng lúc đó, nó có một khái niệm song hành: thi đại học là một kỳ thi tổ chức sau một kỳ thi trước, kích cầu cho các dịch vụ ôn luyện đủ loại.

    Siết chặt thi đại học

    Tại đây, tôi nghiêng về ý kiến của ông Hoàng Biên. Phải “siết” chặt kỳ thi đại học, không thể bỏ.

    Chúng ta hãy hình dung: bây giờ “xoá trắng” kỳ thi này, ai muốn vào cứ “thả cửa” thì điều gì sẽ xảy ra?

    Ít nhất có 6 nét:

    1- Khoảng 70% học sinh học xong phổ thông ào vào đại học.

    2- Các trường danh tiếng phải mở rộng gấp 10 lần, các trường kiểu “dân lập”  nhanh chóng cho thuê mặt bằng làm xưởng cưa, lò gạch.

    3- Thị trường nhân lực xã hội đảo lộn, nhiều nhà máy, xí nghiệp giải tán. Nhiều nơi phải nhập khẩu lao động hạng thường.

    4- Một khối tiền bạc khổng lồ của nhân dân đổ xuống sông, khi con họ “vào thả cửa” rồi “rơi tự do” khi không học hành ra hồn.

    5- Lượng người thất nghiệp sau đại học tăng vài trăm phần trăm.

    6- Tạo nên một “xã hội đại học” giả vờ, ai cũng đại học nhưng năng lực không có; và cái đáng kể nhất là đã không có thì thôi, nhưng do “cơ trời” nào đó, anh này lại được tại vị ở vị trí lãnh đạo anh khác thì thật tai hại.

    Đó, cho nên, việc duy trì kỳ thi đại học chính là một thao tác loại bỏ những diện không thích hợp ra khỏi sân chơi này (những tiêu cực tôi sẽ bàn sau).

    Nhưng, duy trì kỳ “thi” thì sao?

    Bài và ảnhNguyễn Huy Cường

    Nhắn tin cho tác giả
    Di Thanh Tuấn @ 19:28 20/12/2010
    Số lượt xem: 961
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Thi đại học: Sao không chọn cách thứ ba...?

     
    Gửi ý kiến