Tài nguyên dạy học

Điều tra ý kiến

Quý vị thích nội dung nào trên web của chúng tôi?
Tin tức - Sự kiện
Sóc Trăng quê tôi
Bài viết
Công nghệ thông tin
Cần thêm lĩnh vực mới

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Câu lạc bộ thành viên ViOLET Sóc Trăng.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Vũ Hữu Nhà toán Học VN

    Pic.gif
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Dương Nguyễn Sĩ Tín
    Ngày gửi: 14h:06' 13-01-2010
    Dung lượng: 63.0 KB
    Số lượt tải: 1
    Mô tả:

    Vũ Hữu (1437[1]1530) là một nhà toán học người Việt, và cũng là một danh thần dưới triều đại Lê Thánh TôngLê Hiến Tông. Ông còn được coi là nhà toán học đầu tiên của Việt Nam.

    Ông người làng Mộ Trạch, tổng Thì Cử, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Năm Quang Thuận thứ 4 đời vua Lê Thánh Tông (Quý Mùi 1463), ông đỗ Hoàng giáp.[sửa]

    Tiểu sử, sự nghiệp

    Vũ Hữu đã kinh qua các chức vụ như Khâm hình viện lang trung, Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Lễ trong triều đình nhà Hậu Lê, sau được tặng phong Thái bảo. Mặc dù về hưu năm 70 tuổi, đển năm 90 tuổi (1527), ông vẫn được vua tin dùng, sai mang cờ tiết đi phong vương choMạc Đăng Dung. Khi đó ông có tước là Tùng Dương hầu.

    [sửa]Công trình toán học

    Công trình toán học ông để lại cho hậu thế nổi bật là Lập Thành Toán Pháp. Quyển sách này miêu tả các phép đo đạc cũng như cách tính xây dựng nhà cửa, thành lũy. Các phép đo ruộng đất được tính theo đơn vị mẫusàothước (24 mét vuông) và tấc (1/10 thước).

    Sách Công dư tiệp ký ghi lại câu chuyện sau: Vua Lê Thánh Tông muốn thử tài của Vũ Hữu, nên đã giao cho ông sửa chữa ba cửa Đoan Môn, Đại Hưng và Đông Hoa của thành Thăng Long. Tuân lệnh, Vũ Hữu dùng thước đo chiều cao, chiều dài, chiều rộng của các cửa thành và tính ra số gạch đá, vật liệu phải dùng. Kết quả là khi xây xong, đá không thừa một tấc, gạch không thiếu một viên, quy mô các cửa thành được sửa chữa không sai một ly, một tấc. Vua Lê Thánh Tông rất hài lòng đã ban chiếu khen thưởng Vũ Hữu.

    [sửa]Vết ố

    Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép:

    ...1467 Quang Thuận thứ 8...thi khoa Hành từ. Điểm gọi các quan vào thi, tất cả là 30 người. Bấy giờ, Khâm hình viện lang trung Vũ Hữu, Viên ngoại lang Nguyễn Đình Khoa 5 người đều cáo ốm không vào thi. Vua lấy làm lạ, hỏi ra mới biết họ chỉ thích hối lộ. Nhân thế, vua dụ các quan trong triều rằng:
    "Việc hình án phức tạp khó khăn, có ba điều vất vả: Một là suốt ngày cặm cụi vất vả, khổ sở. Hai là xử án không đúng, chịu tội làm sai. Ba là án tụng chất đống, khó lòng xét xử tường tận. Có ba điều vất vả ấy dẫu người không bệnh cũng đến phát ốm, huống chi là có bệnh".
    Đó là nói giễu Vũ Hữu.

    Vũ Hữu (Quí Hợi 1443 – Canh Dần 1530)

    Quê ông ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là thôn Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Cẫm Giang, tỉnh Hải Dương. Cha là Vũ Bá Khiêm, em ruột là Vũ Phong, một Đô lực sĩ, làm võ quan đến chức Cẩm y vệ úy ty chỉ huy sứ thời vua Lê Thánh Tông, dân gian tôn là Trạng Vật.

    Ngoài ra, dòng tộc ông về sau nhiều đởi đỗ đạt, Vũ Hữu là bác của Vũ Đôn, cao tổ của Vũ Lương, tăng tổ của Vũ Đình Lân, viên tổ của Vũ Đình Thiều, Vũ Đình Ân, v.v đều là những bậc khoa bảng vang danh cả.

    Thuở nhỏ, Vũ Hữu đã sớm bọc lộ trí thông minh mẫn tiệp, tư chất tinh anh. Tài tính toán nhanh và chính xác của cậu, cùng với lập luận khoa học sắc bén đã làm sáng tỏ những vụ việc tranh chấp, kiện tụng giữa dân lành tưởng chừng như bế tắc, không manh mối. Hơn thế nữa, với những phương pháp sáng tạo vượt trước thời đại, cậu đã biết ứng dụng các phép đo lường phức tạp, mà mãi về sau này, con người mới tìm ra nguyên lý và phổ biến rộng rãi.

    Từ đó, cậu nổi danh là thần đồng toán học. Năm 20 tuổi Vũ Hữu đỗ Hoàng Giáp trong khoa thi Quí Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan trải nhiều chức vụ, từ Khâm hình viện Lang trung, thăng dần đến Thượng Thư Bộ Hộ, tước Tùng Dương Hầu. Ngoài 70 tuổi mới cáo quan về hưu, dựng nhà Phượng Trì Am, vui thú điền viên, viềt sách.

    Tuy đời làm quan to nhưng ông rất thanh liêm, sống đời cần kiệm. Ông làm thơ tự bạch rằng:

     

    Nhẫm nhiên chí niên quán lịch tiễn,
    Tê ngưu bằng hữu, phạp ngưu canh.

    Nghĩa là: Thấm thoát năm tròn, quan trải 
    khắp, Trâu mổ thì có, thiếu trâu cày.

    Về sau ông lại được phong tặng làm Thái Bảo. Năm Đinh Hợi 1527. Vũ Hữu đã 84 tuổi, vẫn được triều đình tín nhiệm, cử làm Nguyên lão Đại thần, cùng Phan Đình Tá mang cờ tiết đến. Cổ Trai, tấn phong tước Vương cho Mạc Đăng Dung. Năm Canh Dần (1530) ông mất, thọ 87 tuổi. Vũ Hữu là vị quan văn tài giỏi về văn học, chính trị, nhưng nổi bật hơn cả là vốn kiến thức tài ba, đã biên soạn bộ sách Lập Thành Toán Pháp, chỉ rõ cách chia tính ruộng đất, xây dựng nhà cửa, thành lũy, v.v.

    Thế kỷ 15, dưới triều vua Lê Thánh Tông, đã đồng thời xuất hiện hai nhà toán học lỗi lạc, đều viết sách để lại cho đời. Tiếc thay, tác phẩm Lập Thành Toán Pháp của Vũ Hữ đến nay vẫn chưa tìm ra.

    Cháu ông là Lê Quang Bí, một văn thẩn nổi tiếng đời nhà Mạc, đã có đề thơ vịnh rằng:
    Hào kiệt do sơ tiến sĩ khoa- Viết cần, viết thận, viết vô sa. Chư thào diệt chí công năng trứ - Đồng liệt hàm suy đức nghiệp gia – Đường tướng thủ văn Khâm Tống Cảnh – Tấn triều bác vật tiện Trương Khoa – Môn đình thanh tử tương huy áng - Dư khánh tông tri tích thiện gia.
    Dịch là:
    Hào kiệt nguyên trong tiến sĩ khoa – Chữ cần, chữ thận chẳng sai qua, Tì tào thử khắp tài năng rõ – Liêu hào suy tôn đứx nghiệp già. Đường tướng thủ văn so Tống Cảnh – Tấn triều bác vật sách Trương Hoa – Môn đình rực rỡ màu xanh tía – Tích thiện cho hay bởi những nhà.

    Tích trạng: cái cân bằng nước Lần nọ, Vũ Hữu được bố cho theo cùng, sang thăm ông bạn ở làng bên. Gặp nhau, hai ông ngồi trên bộ ván, vừa hút thuốc vừa hàn huyên tâm sự, còn lũ trẻ cũng nhanh chónh nhập cuộc, bày trò ngoài sân…

    Người bạn vốn có chiếc điếu bát rất đẹp, men sứ xanh lam, lại khảm bạc chạm trổ hình rồng mây bao quanh, quả là độc nhất vô nhị, nổi tiếng khắp vùng. Châm vê thuốc ở nõ, rít một hơi dài rồi phà khói ra đầy vẻ sảng khoái, ông Khiêm nói:

     Chiếc điếu bát này đẹp tuyệt, tiếc nỗi nõ điều bằng đồng, chứ bằng bạc nốt thì hoàn hảo lắm!”

    Ông bạn nghe nói, phân trần ngay:

     “Đúng thế đấy! Tôi đã định nhờ thợ đúc chiếc nõ bạc, khổ nỗi không biềt phân lượng bao nhiêu để giao cho đúng số bạc cho thợ…” Rồi như chợt nghĩ ra, ông tiếp:

     “À mà này! Tôi nghe đồn thằng bé Hữu có tài tính toán giỏi lắm, hay ta hỏi nó thử xem…”

    Được gọi vào, Hữu lắng nghe bố bạn giải thích, rồi cầm chiếc nõ ông rút từ điếu bát đưa cho, cậu mân mê, ngắm nghía mãi vẫn không tìm ra cách cân đo.

     Uống chén trà cho tỉng táo đã cháu, rồi từ tốn suy nghĩ…”

    Cầm tách trà nóng, đẩu óc vẫn nghĩ ngợi miên man, Vũ Hữu vô tình làm nước trong tách sóng sánh, văng bắn cả vào tay. Cậu giật mình nhìn lại tách trà, chợt nãy ra phát kiến liền reo lên: “Cháu tính được rổi!!!”

    Hai người bạn già hết sức ngạc nhiên, trố mắt ra nhìn, chẳng hiểu gì cả…
    Vũ Hữu đặt tách trà lên một chiếc dĩa khô, với lấy ấm rót thêm cho đầy ắp, tưởng chừng như dư một giọt là đổ ra ngoài. Đoạn cậu cẩm chiến nõ điếu, từ từ bỏ vào trong tách, nước tràn ngay xuống đĩa… Bỏ tách ra khõi đĩa rồi rót số nước tràn ở đĩa vào một cái tách khác, cậu giơ lên nói:

     “Đây ạ! Khối lượng bạc để đúc chiếc nỏ bẳng đúng khối lượng nước chứa trong tách này!”

    Bằng con đường suy luận, sáng tạo độc đáo, cậu bé Vũ Hữu, ngay từ thế kỉ 15, đã tìm ra phương pháp tính thể tích của những vật khó đo lường, như chiếc nõ điếu chẳng hạn, đã khiến cha ông phải trẩm trồ thoảng thốt:

     “Quả nhiên “Hậu sinh khả úy”… xứng danh là “Thần đồng toán học” kì tài trong thiên hạ.”
    Thiếu một viên, thừa một viên

     “Sao lại thế nà? Cả tháng trời rồi mà các khanh vẫn không dự toán chính xác số gạch để sửa cổng thành ư? Trẫm thất vọng quá đấy!”

    Vua Lê Thánh Tông vỗ Long án, vẻ không hài lòng sau khi đọc qua mấy tờ tấu chương, mỗi tờ nêu một sồ liệu khác nhau… Các đại thần, nhất là Thượng thư cho đến Lang Trung bộ Công đều cúi mặt, bối rối. Rồi chợt nhớ ra, vua phán: 
     “Trẫm vẫn thường nghe Khâm Hình viện Lang Trung có tài tính toán hơn người, truyền cho vào phục mệnh”

    Được lệnh, Vũ Hữu vào bái kiến, vua giao ngay việc tính toán , sữa chữa cho ông, cấm không được dềnh dàng, chậm trễ,

    Rời cung, Vũ Hữu dẫn theo mấy người thợ, bắt tay vào việc ngay.
    Thành Thăng Long được xây vào đời nhà Lý, trải qua hơn bốn trăm năm, nhiều chỗ đã mục nát, hư hỏng cả. Quan sát khắp lượt, Vũ Hữu quyết định sữa chữa cổng Đông Hoa trước, là cổng lớn và đổ nát nhiều nhất. Đến tối, ông vẫn chong đèn ghi chép, cho thợ khuân xếp gạch, vôi vữa sẵn sàng để hôm sau sửa thành.

    Sáng lại, vào triều kiến, Vũ tâu:
    “Thần đã tính toán xong vật liệu sửa thành. Nhưng nội nhật hôm nay chỉ kị[ sửa một cổng, cin bệ ban hạ lệnh khởi công!”
    Vua Thánh Tông rất hài lòng với cách làm việc nhanh nhạy đó, lập tức phê chuẩn, rổi đích thân xa giá ra cổng thành Đông Hoa ngự khán, các quan cùng theo hộ giá.
    Vài vị đại thần thấy số vật liệu Vũ Hữu tính khác xa tính toán của họ nên bực tức, xấu hổ, sàm tấu với vua:

     “Bẩm! Chỉ làm tính trong một đêm, chắc gì đã đúng? E rằng làm ẩu, hỏng việc lớn!”
     “Khải bẩm đúng ạ…! Hay là bắt làm Quân lệnh trạng, nếu xây thừa hay thiếu vật liệu, đều phải chịu tội…”
     “Thần đã tính toán kỹ, nếu thừa hay thiếu, dù chỉ một viên gạch, xin cam chịu tội!”
    Vua ưng thuận, các quan thì hí hửng lắm, chắc mẩm phen này Vũ Hữu mắc tội riồ, dù là “thần toán” cũng không thể chính xác đến vậy. Có kẻ xấu bụng còn lén giấu bớt một viên gạch xếp sẵn, đủ để ám hại Vũ Hữu.
     Trống đổ hồi, lệnh khởi công ban ra… Vũ Hữu kiểm tra lại các khối gạch xếp ngay hàng, chợt trông thấy một chồng hơi lệch đi, liền tâu:
     “Bẩm! Thiếu mất một viên gạch! Ai đó đã rút bớt… Không đúng như số gạch đã sắp sẵn đêm qua.”

    Liền đó, một viên gạch khác được bổ sung đến, rồi vua quan hồi hộp theo sỏi Vũ Hữu đích thân chỉ huy đôn đốc đám thợ xây sửa thành.
    Xế chiều, công việc hoàn tất, số gạch vữa được sử dụng hết, chỉ còn lại duy nhất… một viên gạch! Các quan hể hả lắm, đồng tâu lên vua xin trị tội Vũ Hữu. Vua cầm viên gạch cuối cùng trên tay, nhấc nhấc ước lượng, đoạn bảo:

     “Kể ra tính toán được vậy đã là tài giỏi tột bậc, nhưng viên gạch thừa này lại to nặng hơn các viên kia, cớ chi?”

    Vũ Hữu bị các quan công kích, vẫn điềm nhiên, giờ nghe vua phán hỏi, mới quỳ tâu:
     “Bệ hạ quả anh minh! Số gạch cẩn để sửa chửa cổng thành Đông Hoa là vừa đủ. Riêng viên gạch này, kích cỡ lớn hơn chỉ phù hợp với cột thành phía đông kia, nơi đó tường còn tốt, duy chỉ có một viên vỡ cần thay thế thôi!”

    Không ai chịu tin, cho là Vũ Hữu chống chế chạy tội, đến chừng thợ leo lên phía tường đông, gỡ viên gạch nát ra, trám viên gạch thừa vào thì vừa khít, sít sao. Lúc đó mọi người mới tâm phục, khẩu phục. Vua ban khen:

     “Trước thiếu một viên, thừa một viên. Rốt lại vừa đúng! Khanh quả là thần toán đại tài của nước Nam ta đó!”
    Rồi, vua trọng thưởng, giao phó cho Vũ Hữu đảm trách sửa chửa kỳ hết các cổng thành còn lại, Vũ Hữu vẫn tính toán chính xác, không thừa, không thiếu một viên gạch!

    Hiến kế trạng cờ

    Khi sang nước ta, sứ nhà Minh lại tháng thức vua Lê đấu cờ, vì chúng nghe đồn Thánh Tông tài giỏi cả bốn môn: Cầm, Kì, Thi, Họa, nên lập tâm mang theo một kỳ thủ bậc nhất Minh quốc, cho đóng vai sứ giả, hòng thách đấu và buộc vua tôi nước ta phải chịu thua, khuất phục.
    Trước sự thách mời, Thánh Tông miễn cưỡng nhận lời nhưng trong bụng lo lắm, vì biết không thắng nổi kỳ thủ kia. Các quan xin tiến cử một danh thủ làng cờ nước ta bấy giờ là Vũ Huyên, cũng ở làng Mộ Trạch huyện Đường An với Vũ Hữu, dân gian vẫn gọi người này là “Trạng cờ” vì tài nghệ của ông: Đã đấu là thắng!

    Có Trạng Cờ rổi, nhưng làm sao mách nước cho vua? Vì khi giao đấu, chỉ có hai đấu thủ đối diện trên bàn cờ. Mà học hết nước cờ thì không thể kịp! Vậy là vẫn bế tắc…
     Thần có kế sách này, hiện đang lúc nóng bức, bện hã cho dựng một sàn đấu lộ thiên trong vườn Thượng Uyển lấy lí do vừa đấu cờ vừa hóng mát thưởng hoa. Rồi cho hai lính vác lọng đứng hầu. Vũ Huyên sẽ cải trang làm người cầm lọng đứng che cho bệ hạ, trên lọng soi một lỗ nhỏ đủ để tia nắng rọi xuốn bàn cờ. Tới lượt đi, hễ Vũ Huyên điều khiển tia năng chiếu vào quân cờ nào, dịch chuyển đến đâu, bệ hạ cứ theo đó mà đi qua là được!”

    Mọi người cho là diệu kế, bèn theo đó mà làm. Quả nhiên qua ba ván liền, tay sứ giả kỳ thủ kia đều thua trắng. Tức tối đến phá luật, hắn xin hầu tiếp mấy ván nữa, lại vẫn thua sạch. Giờ thì hoảng sợ thực sự! Hắn gập người bái dài mà tôn đức vua làm “Đệ nhất kỳ thủ”.
    Thắng được sứ nhà Minh, vua Thánh Tông rất trọng đãi công lao của Vũ Huyên, ban cho danh hiệu “Đấu kỳ trạng nguyên”. Từ đó trong dân gian truyển tụng câu ngạn ngữ: “Rượu Hàng Mai, cờ Mộ Trạch” để tán dương tài đấu cờ của ông. (Nhắc đến cờ, phải nói đến người tài ở làng Mộ Trạch.)

    Riêng Vũ Hữu càng được vua và quần thần kính trọng, nể phục tài trí phi thường.

     


    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến